Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

CHIẾC GHẾ GIỮA (Theo Face Book Don Ho)

Chẳng biết ngày quái chi mà chuyến bay đông nghẹt?! Đông lắm! Chật ních những hàng ghế từ trên đầu khoang hạng nhất cho tới mãi tận đuôi máy bay.
Cũng may mình đã chọn lấy ghế từ trước từ lâu rồi nên ... "phước bảy mươi đời" vẫn còn được cái ghế cửa sổ để dựa vào mà ngủ cho dễ hơn.

Tới ghế của mình tưởng ngó lộn khi thấy một bà cụ nhỏ thó khẳng khiu, mặt nhăn nheo, tóc bạc phơ đã ngồi lọt thỏm trong đó. Ngó tới ngó lui, coi lại vé cho chắc ăn thì thấy vẫn là ghế của mình cơ mà:

- "Xin lỗi, bà có thể check lại số ghế vì hình như bà đang ngồi lộn ở ghế của tôi..."

Bà cụ ngước lên, môi giật giật. Hình như bà đã nói gì đấy mà nhỏ quá mình chẳng nghe được! Đàng sau lưng, nguyên một hàng dài người đứng chờ mình vào ghế để nhường đường họ đi.

- "Thưa bà, tôi nghĩ bà đang ngồi ở ghế của tôi, bà có thể coi lại vé của bà không?"

Bà cụ trù trừ chút đỉnh rồi cũng đứng lên nhường chỗ. Ghế của bà là ghế ngồi ngay chính giữa.
Khi đã lách vào chỗ, ngồi xuống rồi, bên cạnh, bà cụ mới quay qua phân trần, giọng tiếng Anh lờ lợ rất khó nghe. Bà có vẻ uất ức lắm, giọng nghẹn nhưng tuôn ra cho một hơi:

- "Tôi đã lấy cho mình ghế cửa sổ ngay khi vừa mua vé xong. Khi nãy lúc ở quầy vé tôi cũng đã yêu cầu nhân viên hàng không phải xem kỹ cái ghế cửa sổ của tôi còn nguyên không? Khi vào tới đây mới biết ghế của tôi lại bị đổi, lại là ngồi ngay chính giữa!!! Chuyến bay quá dài, tôi rất mệt, rất cần tựa vào cái cửa sổ để ngủ. Tiếp viên hàng không bảo tôi cứ ngồi đây rồi họ sẽ lo liệu cho, tôi chờ mãi chưa thấy họ trở lại!"

Thiệt, chuyến bay dài hơn 14 tiếng đồng hồ từ Úc về Mỹ, hơn nửa ngày trời, ngồi giữa sẽ như bị cực hình, chả ai muốn bị kẹp ngay chính giữa cả!
Nghe bà nói cũng thấy tồi tội, nhưng mình lo phần mình còn chưa xong kia mà. Đãi bôi cho qua chuyện:

- "Họ nói sẽ lo liệu, bà cứ chờ xem họ lo như thế nào"

Xong còn xúi thêm:

- "Mà bà nhớ phàn nàn, làm cho dữ vào, biết đâu hãng máy bay họ lại chuyển bà lên ngồi ghế business không chừng luôn í chứ ..."

15 phút sau đó, trước khi đóng cửa lại để sửa soạn cất cánh, người nhân viên có tiến lại, lịch sự xin lỗi là máy bay không còn một chỗ nào khác trống để di chuyển bà tới. Và lỗi hoàn toàn là do bên chỗ đã bán vé cho bà không lo lấy ghế cho bà trước để cho ra nông nỗi này!?
Bà cụ ngồi im lặng. Chịu thôi, không còn chỗ trống thì làm gì khác được bây giờ, trừ khi bỏ đi ra chờ chuyến tới! Tuy vậy mặt bà như tối sầm lại, môi run lên vẻ giận lắm lắm.

Cũng thấy động lòng, nhưng tự nhủ là "Không nha. Không được đâu nha. Đường dài lắm, cần phải giữ cái ghế cửa sổ này để ngủ lấy sức để khi về tới nơi còn làm việc được ngay. Rồi còn có sức để 3 bữa nữa còn bay qua Âu Châu nha. Không được yếu lòng mà nhường ghế đâu nha..."

Bà cụ cuối cùng như an phận chịu đựng, ngồi lọt hẳn vào giữa lòng ghế, mắt ngó thẳng ra trước, chắc hẳn trong đầu bà cũng đang nghĩ về đoạn đường bay dài dằng dặc & sức khoẻ của mình...
Đã cố ngó lơ đi rồi đấy chứ, nhưng rồi cuối cùng không đành lòng, rồi cũng xoay qua nói nhẹ như hơi thở một phần chắc cũng hy vọng cho bà ta đừng nghe thấy rõ:

- "Bà sẽ có cảm thấy tốt hơn khi tôi đổi ghế cho bà không?"

Bà cụ nẩy lên hết sức mừng rỡ, nói như reo:

- "Cậu nói gì? Thật à? Cậu đổi ghế cho tôi thật à? Ôi thật sung sướng quá, cậu thật tốt. Rồi Chúa sẽ ban ơn lành cho cậu!"

Sự mừng rỡ một cách thái quá của bà làm cảm thấy có gì đó kỳ kỳ! Nhưng thôi đã quyết định, đã nói ra rồi thì phải làm theo. Coi như tặng bà cụ món quà nho nhỏ mùa Giáng Sinh đi. Ngồi giữa một lần cũng chẳng sao, chỉ cầu cho ngủ thiếp đi được chút nào hay chút ấy.
Cô gái da màu ngồi bên cạnh theo dõi câu chuyện từ đầu đến giờ như cũng cảm kích ngồi thụt tay, thụt người vô chút cho mình rộng rãi chỗ hơn chút đỉnh...

Và ... trời cũng thương sao đó mà cả chuyến bay ngồi chính giữa mà mình đã ngủ thật dễ dàng, ngủ thật ngon lành, ngủ quên cả bữa ăn tuy bụng rất đói. Khi bừng mở mắt dậy chung quanh mọi người đang lách cách muỗng nĩa ăn tối, trước mặt một khay đồ ăn đã nằm ngay đó chờ đợi với lon nước ngọt.

- "Tôi đã lấy cho cậu thịt bò vì tôi nghĩ nó ngon hơn món nui. Máy bay đông quá nên khi thấy ai cũng lấy thịt bò tôi sợ hết nên đã mạo muội bảo lấy trước cho cậu..."
Bà cụ nói.
Món thịt bò ăn vừa miệng thiệt. Cũng nhờ bà cụ mà mình còn khay thịt.

Ăn xong lại thiếp ngủ đi cho tới bụng lại cồn cào đói thì lại thức dây. Trước mặt đã lại có ổ bánh mì kẹp jambon.

- "Tôi nghĩ cậu thức dậy sẽ lại đói nên hồi nãy họ mang bánh mì tới, tôi lại bảo để lại cho cậu..."

Và cứ như thế cả chuyến bay mình đã ngủ ngon lành, khi tỉnh dậy thức ăn đã có sẵn ngay tầm tay. Khi thì thanh kẹo, khi thì ổ bánh mì, khi thì cái bánh bông lang. Có lúc cũng hơi thắc mắc là sao chuyến bay này có vẻ cho khách ăn "phủ phê" hơn những lần khác?
Mãi tới khi gần tới nơi, bà cụ đi vệ sinh, cô gái da màu ngồi cạnh bên mới khều, cho hay là mấy thanh kẹo, cái bánh bông lang là đồ ăn riêng của bà cụ mang theo trong túi xách...

Mùa Giáng Sinh, mùa của yêu thương và an bình, làm như làm điều gì đúng với lòng thì mình sẽ thấy tâm hồn bình an hơn và làm như cũng được ơn trên bù đắp lại cho mặt khác vậy, nhất là khi đang bay trên đỉnh của những tầng mây, gần xứ thiên đàng hơn lúc nào hết. Chưa bao giờ đi xa mà mình đã ngủ những giấc ngon như thế, khi xuống máy bay cả ngày thấy khoẻ khoắn để làm việc đến thế...

Và bà cụ... Sau những câu chuyện qua lại nhỏ nhặt trên chuyến bay mới biết được bà là một người gốc Do Thái trước khi chiến tranh Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, toàn gia đình đã từng bị đầy lao động khổ sai ở trong trại tập trung của Đức Quốc Xã. Trên chuyến xe cuối cùng chở tới phòng hơi ngạt bà ngồi giữa ba mẹ của bà cho tới khi hai ông bà bị giật phăng ra khỏi ghế. Và từ đó bà đã rất hãi sợ ngồi ghế giữa ở bất cứ nơi nào, bất cứ tình huống nào ...

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

Người Do Thái: Sự thần kỳ của một dân tộc nhỏ bé

Một dân tộc nhỏ nhưng tác động đến rất lớn toàn bộ văn minh của trái đất. Từ cuộc sống, khoa học, làm giàu… đến tư tưởng mọi thứ đều có sự tác động của người Do Thái.
Văn minh Do Thái không để lại những kiến trúc nổi tiếng như Kim tự tháp, điện Pantheon hoặc Vạn lý Trường thành, nhưng nó lưu lại mãi mãi một di sản phi vật thể vô giá mà ít có nền văn minh nào có thể sánh được về tầm ảnh hưởng lâu dài, sâu sắc đối với văn minh toàn nhân loại.
Dường như là, mỗi khi bàn luận về sự thông minh có di truyền không, người ta đều nêu lên dẫn chứng về giải Nobel và người Do Thái. Và cũng như một thông lệ, hàng năm sau khi công bố giải, người ta đều hỏi người Do Thái chiếm bao nhiêu phần trăm giải năm ấy. Và thực tế thì con số này không hề nhỏ.
Ví dụ chỉ sau khi vừa công bố 3 giải Nobel 2011, lập tức có một bài báo nhan đề “Bà mẹ Yiddeshe có thể tự hào: Năm trong bảy Nobel gia là người Do Thái”. Đó là: Ralph Steinman và Bruce Beutler, giải Nobel về Y học, Saul Pelmutter và Adam G. Ross - giải Nobel về Vật lý, Daniel Shechtman - giải Nobel về Hoá học.
Dân tộc Do Thái là một trong những dân tộc có nền văn hoá và lịch sử lâu đời nhất của nhân loại, ra đời cùng với thời kỳ văn minh Ai Cập, văn minh Lưỡng Hà và văn minh Hy Lạp-La Mã thời cổ đại. Nhưng lịch sử bắt họ phải chịu một số phận không may mắn, bị các bộ tộc và các lãnh chúa khác xâm chiếm đất đai và xua đuổi dưới những lý do tôn giáo. Từ đó họ phải sống tha hương, từng nhóm kéo nhau đi khắp mọi nơi trên thế giới để duy trì sự sinh tồn, vượt qua những định mệnh nghiệt ngã của lịch sử.
Trên 2000 năm qua, đi đến đâu họ cũng tỏ ra là một dân tộc có sức sống dẻo dai, không bị đồng hoá và ý thức vươn lên mãnh liệt.Trong công việc họ cần cù, kiên trì và quyết tâm đạt những mục đích mình theo đuổi. Bởi vậy, gần như sống ở đâu họ cũng thành công.
Sự thành đạt và khôn ngoan của họ nhiều khi bị thành kiến và kỳ thị. Trong Thế chiến II, dưới chế độ phát xít, khi Hitler đề cao thuyết “người Đức là một dân tộc thượng đẳng”. Hitler rất sợ sự vượt trội của người Do Thái, nên dã bắt họ sống trong các trại tập trung, đày đoạ họ với ý đồ để họ chết dần chết mòn trong đó.
Người Do Thái đặc biệt xuất sắc trong lĩnh vực trí tuệ. Họ thường là những nhà khoa học lớn, những doanh nhân lỗi lạc, những nhà văn kiệt xuất, những nhà tư tưởng uyên bác, những chính trị gia tài giỏi…
Từ năm 1901, giải Nobel được thành lập và trở thành một giải thưởng uy tín nhất và danh giá nhất hành tinh, tôn vinh những người có đóng góp lớn nhất cho nhân loại, có những phát minh đột phá, những tác phẩm văn chương thấm đẫm tính nhân văn, những người có công lao kiến tạo một thế giới an bình hơn, tốt đẹp hơn. Người Do Thái lập tức trở thành một yếu tố quan trọng của giải, dù họ sống ở các nước khác nhau, mang quốc tịch khác nhau hoặc chính tại đất nước mới thành lập cách nay không lâu của họ là Israel.
Tính đến năm 2011, giải Nobel đã trao 108 lần (trừ 4 năm trong Thế chiến I và II không trao giải) cho trên 800 nhân vật và các tổ chức xã hội. Nếu tính tất cả các giải, ít nhất có 181 người Do Thái (thuần chủng, hoặc từ 1/2 đến 3/4 dòng máu Do Thái) được trao giải Nobel, chiếm 22% số nhân vật được coi là những trí tuệ hàng đầu của nhân loại.
Trong các giải Nobel qua hơn một thế kỷ, tỉ lệ số người Do Thái chiếm lĩnh các giải Nobel trong các lĩnh vực như sau:
- Hoá học: 32 người, chiếm tỷ lệ 21%
- Kinh tế: 28 người, chiếm tỷ lệ 42%
- Văn chương: 13 người, chiếm tỷ lệ 12%
- Vật lý: 49 người, chiếm tỷ lệ 27%
- Hoà bình: 9 người, chiếm tỷ lệ 8%.
Cần lưu ý rằng số người Do Thái trên Trái đất là 20 triệu (cả trong và ngoài nước) nghĩa là chưa đến 0,2% dân số thế giới. Như vậy, trong khi dân số thế giới là gần 8 tỷ với trên 800 giải Nobel, thì bình quân số giải trên đầu người của người Do Thái so với bình quân của thế giới cao hơn đến 11.950%. Song đó chỉ là so sánh cho vui thôi, chứ con số này không mấy ý nghĩa bởi kèm theo nó còn bao nhiêu điều kiện khác nữa. Người ta thường nói giải Nobel trong vài chục năm gần đây đổ dồn về Mỹ. Song ít ai để ý, trong những “giải Nobel mang thương hiệu Mỹ” thì người Mỹ gốc Do Thái chiếm một phần quan trọng.
Xin nêu một vài con số: Giải Nobel Hoá học của Mỹ có 27% là người gốc Do Thái, Nobel Vật lý - 37%, Nobel Y học & Sinh lý học - 42%, Nobel Kinh tế - 55%, Nobel Văn chương - 27%, Nobel Hoà bình 10%. Và cũng xin nhớ rằng dân số của cộng đồng Do Thái chỉ bằng 2% của Mỹ.
Trí tuệ Do Thái thể hiện không chỉ ở nam giới mà cả nữ giới. Trong 4 ngành khoa học có 18 nữ Nobel gia thì 36% là các bà gốc Do Thái, tỷ lệ còn cao hơn cả các ông. Nếu không kể giải Nobel, thì bất cứ giải quốc tế nào khác, tỷ lệ các nhà khoa học Do Thái cũng tương tự. Chỉ xin kể một giải chúng ta đã nói nhiều là giải Fields thì các nhà toán học trẻ người Do Thái được giải chiếm 27%, giải thành tựu suốt đời trong Toán học, họ chiếm tới 55%.
Các Nobel gia người Do Thái cũng nằm trong một số “điều đặc biệt” của giải. Chẳng hạn Elia Wiesel, người sống sót từ trại tập trung của phát xít Đức được giải Nobel Hoà bình năm 1986. Nhà Nobel cao tuổi nhất khi được trao giải là người Balan gốc Do Thái, Leonid Hurwicz, giải Nobel kinh tế 2007 năm ông đã 90. Nobel gia sống thọ nhất là bà Rita Levi-Montalcini, giải Nobel Sinh lý học 1936 hiện đã vượt qua tuổi 102 hoặc một nhà văn bị nhà nước buộc không được nhận giải là Boris Pasternak, giải Nobel văn học năm 1958. Nhà khoa học được bình chọn là nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ XX - Albert Einstein – cũng là người Mỹ gốc Do Thái.
Cả một dân tộc giỏi làm kinh tế
Chúng ta đều biết người Do Thái (thời cổ gọi là Hebrew) là dân tộc thành công nhất trên nhiều lĩnh vực trí tuệ, nhưng có lẽ ít ai biết họ thực ra còn cực kỳ xuất sắc trên mặt kinh tế, tài chính, thương mại. Họ đạt được những thành tựu đó trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn: toàn bộ dân tộc Do Thái buộc phải sống lưu vong phân tán, “ăn nhờ ở đợ” suốt 2000 năm qua trên khắp thế giới, đi tới đâu (trừ ở Mỹ) cũng bị xa lánh hoặc hắt hủi, xua đuổi, tước đoạt, thậm chí hãm hại, tàn sát vô cùng dã man, bị cấm được sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên...
Chỉ cần lướt các mạng tìm kiếm là ta có thể sưu tầm được ngay một số thành tựu cực kỳ gây ấn tượng của người Do Thái trên lĩnh vực kinh tế, dù là về mặt lý thuyết hay thực tiễn. Hãy xem một số số liệu sau đây:
Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thế giới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng vô cùng to lớn nếu không nói là quyết định tới quá trình trình tiến hóa của nhân loại:
- Karl Marx (Các Mác) người khám phá ra “giá trị thặng dư” và xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế cho chủ nghĩa tư bản, được gọi là một trong hai người Do Thái làm đảo lộn cả thế giới (người kia là Jesus Christ);
- Alan Greenspan 17 năm liền được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử làm Chủ tịch Cơ quan Dự trữ Liên bang (FED, tức Ngân hàng Nhà nước Mỹ) nắm quyền sinh sát lớn nhất trong giới tài chính Mỹ, thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu;
- Paul Wolfowitz cùng người tiền nhiệm James Wolfensohn, hai cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới, tổ chức tài chính có tác dụng rất lớn đối với các nước đang phát triển;
- 41% chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1901-2007 là người Do Thái (cộng 13 người), chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008)… là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng...
Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người:
- Jacob Schiff, chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; đầu thế kỷ XX do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật Bản vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong đại chiến II Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc tuy đồng minh số Một của Nhật là phát xít Đức Hitler có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy.
- Sheldon Adelson, người giàu thứ 3 nước Mỹ, với tài sản cá nhân lên tới 36 tỷ USD. Nếu được chính phủ VN cho phép thì khả năng Sheldon Adelson sắp mở sòng bạc tại thành phố Hồ Chí Minh.
- George Soros giàu thứ 22 ở Mỹ (19 tỷ USD) không chỉ nổi tiếng về giàu có mà ông còn là bậc thầy về những phi vụ đầu cơ đi vào lịch sử...
- Michael Bloomberg có tài sản riêng 22 tỷ USD, làm thị trưởng thành phố New York đã 8 năm nay với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế.
Cộng đồng Do Thái ở Mỹ chiếm một nửa tổng số người Do Thái trên toàn thế giới là quần thể thiểu số thành công nhất ở Mỹ dù chỉ chiếm 2,5% số dân. Khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ, 21 trong số 40 nhà giàu đứng đầu bảng xếp hạng của tạp chí Forbes là người Do Thái, và cộng đồng Do Thái có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của nước này. Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính Mỹ, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel.
Nước Israel nhỏ bé với hơn 5 triệu người Do Thái tuy ở trên vùng sa mạc khô cằn nhưng nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật đều rất phát triển, dân rất giàu, GDP đầu người năm 2011 khoảng 31.500 USD (nguồn web CIA.gov). Nhờ sức mạnh mọi mặt ấy, quốc gia nhỏ xíu này đã đứng vững được trong làn sóng hằn thù và công kích của cả trăm triệu người Ả Rập xung quanh...
Nguyên nhân do đâu?
Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy? Lịch sử đã chứng minh, yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc ấy.
Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man suốt 2000 năm qua. Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.
Muốn vậy, ta thử điểm qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – kinh điển này hơn 10 thế kỷ sau được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Ta cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái gọi là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới thời nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.
Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người. Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi. Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành; ngoài ra họ chú trọng truyền đạt cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ, thể hiện ở chỗ họ chiếm tỷ lệ cao nhất trong sinh viên các trường đại học hàng đầu cũng như trong giới khoa học kỹ thuật và văn hóa nghệ thuật.
Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Nho, ta cần phân tích thêm. Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau (đấu tranh giai cấp) và chiến tranh giữa các quốc gia. Heghel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền (sở hữu) về tài sản.” Chính Marx cũng nói: Chủ nghĩa cộng sản “là sự phục hồi chế độ sở hữu của cá nhân trên một hình thức cao hơn”. Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, người người mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có.
Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ. Nho giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.
Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có. Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái là Abraham, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế Jehovah yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài. Thượng Đế cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật. Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David ... đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa. Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.
Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái. Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn. Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào. Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn (còn ai kiếm tiền dễ hơn ngành ngân hàng?).
Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Bạn nào đã đọc tiểu thuyết Ai-van-hô (Ivanhoe) của Walter Scott chắc còn nhớ mãi hình ảnh ông lão Do Thái Isaac (I-sắc) đáng thương, bố của nàng Rebeca xinh đẹp và thánh thiện, lúc nào cũng khư khư giữ túi tiền và bị hiệp sĩ Đầu Bò nhạo báng khinh bỉ thậm tệ. Kịch của Shakespeare đưa ra nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác người Do Thái bần tiện, ích kỷ, xảo trá. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án. Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị bọn Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 30. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.” Karl Marx từng viết: Tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái. Marx nói như vậy nghĩa là đã thừa nhận người Do Thái tham dự sáng lập ra chủ nghĩa tư bản, một chế độ xã hội mới thay thế chế độ phong kiến và làm nên phần chủ yếu trong cộng đồng quốc tế hiện nay. Quả thật, người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Kinh Talmud viết: Mọi người phải yêu Thượng Đế với toàn bộ trái tim, cuộc đời và của cải của mình; mỗi người đều phải quan tâm tới tài sản; không ai được phép dùng tài sản của mình để làm hại kẻ khác và không ai được trộm cắp tài sản người khác; tài sản của một người nhưng không phải chỉ là của người đó mà phải dùng nó để giúp kẻ khác... Có thể hiểu “Yêu Thượng Đế với toàn bộ tài sản của mình” nghĩa là phải sử dụng tài sản riêng của mình theo lệnh Thượng Đế, nghĩa là phải chia bớt cho người nghèo. Quy ước này đã đặt nền móng cho tư tưởng nhân ái, bình đẳng của văn minh phương Tây. Từ đó ta dễ hiểu vì sao cộng đồng Do Thái ở đâu cũng giúp đỡ nhau để tất cả cùng giàu lên, không có ai nghèo khổ.
Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Soros từng cúng 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.
Người Do Thái luôn nghĩ rằng Thượng Đế giao cho họ nghĩa vụ và quyền làm giàu. Đây là động lực chủ yếu khiến họ ở đâu cũng lo làm giàu, không bao giờ chịu nghèo khổ. Hai nghìn năm qua, dù sống lưu vong ăn nhờ ở đợ các quốc gia khác và ở đâu cũng bị cấm sở hữu mọi tài sản cố định nhưng dân tộc này vẫn nghĩ ra nhiều cách kinh doanh hữu hiệu bằng các dịch vụ như buôn bán, dành dụm tiền để cho vay lãi …
Muốn làm giàu, điều cơ bản là xã hội phải thừa nhận quyền tư hữu tài sản. Kinh Talmud viết: ai nói “Của tôi là của tôi, của anh là của anh” (mine is mine and yours is yours) thì là người bình thường (average); nói “Của tôi là của anh, của anh là của tôi” thì là kẻ ngu ngốc; nói “Của tôi là của anh và của anh là của anh” thì là ngoan đạo (godly); ai nói “Của anh là của tôi và của tôi là của tôi” là kẻ xấu (evil). Nghĩa là họ thừa nhận quyền tư hữu tài sản là chính đáng, không ai được xâm phạm tài sản của người khác.
Tuy thừa nhận quyền sở hữu tài sản và luật pháp bảo vệ quyền đó, nhưng đạo Do Thái không thừa nhận quyền sở hữu tài sản tuyệt đối và vô hạn, cho rằng tất cả của cải đều không thuộc về cá nhân mà thuộc về Thượng Đế, mọi người đều chỉ là kẻ quản lý hoặc kẻ được ủy thác của cải đó. Tài nguyên thiên nhiên do Thượng Đế tạo ra là để ban cho tất cả mọi người, không ai có quyền coi là của riêng mình. Đây là một quan niệm cực kỳ tiến bộ và có giá trị hiện thực cho tới ngày nay: tài nguyên thiên nhiên, sự giàu có của đất nước là tài sản của toàn dân, tuyệt đối không được coi là của một số nhóm lợi ích hoặc cá nhân.
Kinh Talmud viết nhiều quy tắc hữu dụng về kinh doanh. Chẳng hạn:
- Vay một quả trứng, biến thành một trại ấp gà;
- Bán nhiều lãi ít tức là bán 3 cái (lãi) chỉ bằng bán 1 cái;
- Mất tiền chỉ là mất nửa đời người, mất lòng tin (tín dụng) là mất tất cả;
- Nghèo thì đáng sợ hơn 50 loại tai nạn;
- Giúp người thì sẽ làm tăng tài sản; ki bo chỉ làm nghèo đi;
- Chỉ lấy đi thứ gì đã trả đủ tiền cho người ta;
- Biết kiếm tiền thì phải biết tiêu tiền; v.v…
So sánh Cựu Ước và Talmud với Tân Ước, có thể thấy đạo Do Thái là tôn giáo của người muốn làm giàu, còn đạo Ki-tô là tôn giáo của người nghèo. Khác biệt căn bản ấy là một trong các lý do khiến Giáo hội Ki-tô ngày xưa khinh ghét người Do Thái (hy vọng trong một dịp khác chúng tôi sẽ trình bày về vấn đề này).
Từ sự phân tích sơ qua về quan điểm đối với tài sản và tiền bạc nói trên, có thể thấy hệ thống tư tưởng của đạo Do Thái rất phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và chính vì thế nó tạo dựng nên truyền thống văn hóa bất hủ của dân tộc Do Thái – nền móng vững chắc làm cho dân tộc này dù phải sống lưu vong không tổ quốc hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn là dân tộc thành công nhất trên hầu hết các hoạt động của loài người.
Đồng thời các nguyên lý chính của đạo Do Thái đã tác động không nhỏ tới giáo lý đạo Ki-tô và đạo Islam; hai tôn giáo lớn này đều có nguồn gốc từ đạo Do Thái. Cuối cùng, nhờ có những điểm độc đáo nói trên, văn minh Hebrew của phương Đông trong quá trình giao lưu kết hợp với văn minh Hy-lạp của phương Tây đã sinh ra một nền văn minh mới – văn minh Ki-tô giáo, sau rốt trở thành nền văn minh phương Tây rực rỡ mấy nghìn năm nay. Có lẽ đây là thành tựu đáng kể nhất mà nền văn minh Hebrew đã đóng góp cho nhân loại. Điều đáng nói là, do các nguyên nhân lịch sử cực kỳ phức tạp, lâu nay người ta đã coi nhẹ nền văn minh Hebrew, và bây giờ đã đến lúc loài người nên sửa chữa sai lầm đó.
Theo VFPRESS

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

OAN (Khongthoike)



Quan Hán Khanh, kịch tác gia nổi tiếng thời nhà Nguyên  ( thế kỷ 13 ) viết vở Cảm thiên động địa Đậu Nga oan . Nội dung vở kịch nói về nỗi oan của một phụ nữ bình dân làm trời đất phải động.

Lịch sử tiến hoá nhân loại - bước song song với xã hội chỉ ra rất nhiều ví dụ về tình trạng " xui xẻo " trong một giai đoạn nào đó của số phận cá nhân . Phần lớn những đánh giá về nỗi oan do hậu thế " nhiều chuyện " . Thực tế oan ức là hiên nhiên và còn kéo dài mãi. Thậm chí nói ngoa ngôn , còn xã hội , còn oan trái.

Thống kê học chỉ ra rằng , người thành đạt là có tỷ lệ quyết định sai / đúng : 70/ 30. Nghĩa là phần oan sai do cá nhân hoặc tha nhân gây ra lớn hơn nhiều gấp bội .Ví dụ : cho một đứa trẻ ăn dặm ( nó chưa biết nói, chửi , chỉ biết khóc ).
mẹ, bà, oshin mải tám  nhét cho bé quá tay ... Một oan ức nhỏ hình thành.

Con người càng lớn, càng hiểu biết , càng dễ bị, gặp, hưởng oan ... Cá nhân nào càng có vị trí cao trong xã hội  sẽ cảm nhận trạng thái này rõ ràng hơn.
Truyền cổ kể rằng Thị Kính mắc nỗi oan không giải , nhưng ai cũng khoái Thị Mầu. Lý do duy nhất , Thị Kính oan có chủ đích, có chiến thuật . Thị Mầu bị bán mà còn đếm tiền cho mẹ mìn. Tiếc lắm thay !

Kể một chuyện cũ , khi cấp trên cử cán bộ dân vận xuống cơ sở tuyên truyền .
Lần đầu : một vị béo mập  . Dân tẩy chay và ý kiến : thằng này chắc hút máu dân nhiều lắm. Lần sau  , rút kinh nghiệm  cán bộ gầy còm xông trận : phản ứng của dân còn dữ dội hơn : chắc " nó " ăn chơi thác loạn nên mới gầy . Hết đỡ !

Nói rộng ra , những nhân vật lịch sử cổ kim đều kẹt vào vụ oan này.  Nguyễn Trãi , vụ án lệ chi viên , cách đây hơn Sáu thế kỷ , tru di tam tộc , nói hài hước là không ăn thịt rắn đúng cách . Hi hi

Một cách nhìn khác, nỗi oan nhỏ có thể lợi dụng được , chuyển bại thành thắng, tránh hoạ tuyệt vời . Khi Ta mắc tứ đổ tường, vợ ta, con ta chỉ nghĩ ta mắc lỗi nhìn thấy, và thường xoáy sâu vào khuyết điểm đó , vô hình trung che dấu bao lỗi lầm nghiêm trọng khác.

Phần lớn quan điểm tha nhân đều nghĩ oan cho người khác và mình bị oan . Thực tế tỷ lệ 50/50. Hên xui mà . Ai mà biết vụ án của Ông Nguyễn văn Chấn Bắc Giang , mấy hôm ầm ỹ trên mạng là Oan lớn hay nhỏ. Chỉ biết rằng sau vụ này ít nhất một số vấn đề sẽ tránh được , tạo tiền đề cho trào lưu xét lại .Cũng hay.

Ngũ Tử Tư, danh tướng nước Ngô, tổ sư Cái bang Trung quốc , vì gia đình gặp nỗi oan khuất , quyết chí báo thù , thay đổi cả lịch sử Ngô Việt. Chu Văn Vương , bị giam tại Dửu lý , ngồi buồn diễn giải Chu Dịch , làm sách giáo khoa cho vạn triệu Thày bói sau này. Tư mã Thiên vì nn hất thời Hồ đồ, chịu oan khuất , bị cung hình ( thiến ) viét ra sử ký lẫy lừng kim cổ. Quay lại các con số thống kê lạnh lùng nhưng không vô cảm ... Hình như viét ở bài nào rồi câu này.
Các công trình văn hoá, phát minh, chính trị, tư tưởng của các vỹ nhân đông tây , suy cho cùng đều bất nguồn từ nỗi oan nào đấy. Nội suy oan ức góp phần thúc đẩy tiến bộ văn minh.

Két thúc bài viét Linh tinh này. Xin mượn một câu Thơ trong bài độc tiểu thanh ký của thi hào Nguyễn Du.

Phong vận kỳ Oan ngã tự cư !

Tạm dịch : nỗi oan của người phong nhã do người đó tự gây nên.

Ai không bị oan chắc chắn không phải người phong nhã !,,

Chuồn thôi.

Cảm hứng nhân dịp Nguyễn Du được Unesco trao giải gì đó.

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

ẢNH CHUYẾN ĐI HÀ GIANG CỦA DUNG












Ngưỡng mộ bạn mình quá.

Mọi người có thể vào FB của Dung theo đường link dưới đây để đọc kỹ hơn.

https://www.facebook.com/beautyhp.pham?fref=ts

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

ÔNG CỨ THỬ...XEM!


ÔNG CỨ THỬ XEM!,nghe quen quen, như thăm thẳm xa xôi vọng từ miền ký ức hóa ra là cúa bạn LƯU của tôi!chả là đang loay hoay muốn "bót" một câu trả lời cho tiên sinh khoa mac thì chẳng biết phải làm thế nào?DỪ tuổi này mà hỏi các cháu thì nó cười cho chết!mà cậy con thì nó cú lên nó trả thù thì chết hết chim của cả khu (DỪ cậy con mà),thì được LƯU tiên sinh dạy:ÔNG CỨ THỬ XEM-và TRAI HẢI AN thử,và được. có điều bài ca ngợi (xỏ xiên) thì pót hỏng mà bài thăm dò,à ơi (hay hay là tới) thì lại được,thế mới chết!
Vậy nên tiên sinh có lần dạy  tôi cuộc sống cần phải thử,thử mở một cánh cửa ta có thể bước vào thiên đàng còn sót lại(mandiver?),cũng có thể bước sang địa ngục-đứng về mặt triết học cả hai vấn đề đó thành công như nhau.
thầy tôi kể chuyện đi pháp ,vào bảo tàng Louve được ngắm,được trêu được bẹo vào cánh tay...cụt cúa nàng MILO mà nhớ về cô ở nhà RƯNG RƯNG làm sao? và kết luận:CÁC ANH CỨ THỬ XEM!ông bạn tôi được đi pháp nhớ lời thầy, hùng hổ tới tìm cô MILO (xúi quẩy cô MILO đang  đi dưỡng thương,có bạn thân của cô MILO căng tràn sinh năm 1993 đứng trông nhà hộ) bạn tôi cũng ngắm cũng trêu và...bẹo vào tay cô bạn thì bị  một cái tát (đúng cái tát xịn của con tây) về  bóp hết cả lọ dầu trường sơn mà không hết tím.
Thời xa xôi lắm  của tôi cũng vài ba lần thử đều hỏng cả,có một lần  thích một cô lắm mà chẳng biết làm cách nào,nàng hay đi vũ trường ( nàng có sở thích là được bạn trai ôm eo,chứ nhảy thì chán lắm) ,nhân một cuộc dạ hội sinh viên nàng bị lỡ nhịp .rất,rất nhiều chàng hào hoa bóng mượt,giàu có bước tới,kiểu cách mời nàng khiêu  vũ mà nàng không đáp nhời,tôi chỉ dám đứng xa xa ngắm người mình hâm mộ, sắp tàn cuộc,chán quá định ra về chợt nhớ tới lời ông bạn:ÔNG CỨ THỬ XEM!đi qua nàng lấy hết cam đảm hất hàm buông  một câu:nhảy không?và nàng đồng ý!và hôm nay đã  là mẹ của hai đứa đang khao khát trả thù...!
Hôm rồi có ông bạn  buôn bất động sản ở macao (kiều đất) qua nhà chơi và nhận xét:sao phố nhà ông mới mở cái gì mà nó nhấp nháy suốt đêm không mỏi mắt nhẩy?nhớ lời ông bạn:ÔNG CỨ THỬ XEM!hai chúng tôi bước vào,trời ơi!thiên đường đâu có sót lại,đâu cứ phải Maldives, còn rất,rất nhiều,có phải  đây mới là cuộc sống???! Nơi đây cứ rừng rực,hừng hực...cư dân nơi đây no đủ đạt mức phè phỡn,thông minh đạt mức dư thừa (không cận mà cũng mang kiếng) định rửa tay thì đã có người  đón ý mang ngay khăn lạnh,mắt vừa hướng tới cái tivi thì đã có người hỏi:các quí ngài thích xem phim ít diễn viên hay phim nhiều diễn viên?định bước ra khu sau thì đã có hai cư dân thông minh xin phép  hỗ trợ tắm cho các quí anh!!!Cư dân ở đây hiếu khách và thân thiện mắng thoải mái chỉ nhe răng cười tuy vậy thiên đường này cũng có vài điểm yếu về ẩm thực (toàn tiên  họ đâu có cần ăn?) !ông bạn tôi gọi món,họ nới ở đây chúng em  không bán cá,chỉ bán thịt , chúng tôi gọi món  Sushi-Geisha ăn cho máu,vừa nhâm nhi,vừa bình ý nghĩa câu thơ : con cò lặn lội bờ sông (chắc là trước khi gặp bạn giai, cò lội xuống sông tắm cho đẹp để xinh gái?) bình về sự  ga-năng nhất mực của khổng tử (nghe nói cụ thu mua toàn bộ roi mây của tỉnh sơn đông về đan… yếm cho vợ cụ),bình về tám chữ vàng đang đeo lên cổ các quí cô-đẹp làm sao???

Giai Hải An

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

LẠI MỘT MÙA HALLOWEEN

Lại một mùa Halloween tới.Trick or Treat!!
Cu Tí háo hức: Ba xin cô giáo cho con về sớm nhé. Làm mình cũng háo hức theo.
Cướp biển, Bạch Tuyết, Phù Thủy, Bat man... đủ hết

"Tiếp viên" nhà hàng
"Ông chủ nhà hàng" đang cầm dao chỉ đạo nhân viên.
Có vẻ như văn hóa Âu Mỹ đang ngày càng phổ biến.
Vì sao vậy?! Mình và Ông hàng xóm vừa đứng trông con vừa "tám".
Tại vì văn hóa và kinh tế Âu Mỹ đang thịnh hành. Thời đại này đang là của họ?!
Tại vì văn hóa của họ có sức sống và thực tiễn hơn. Ừ . Cái này xem ra có lý.
Ở khu nhà tôi cũng mới tổ chức tết Trung Thu cho các cháu xong, cũng đông (vì có quà) nhưng xem ra bọn nhỏ không hạnh phúc bằng đêm Haloween này. Hôm nay các cháu được tham gia cuộc chơi, đóng vai gì tùy thích và lên sân khấu. Còn Tết Trung Thu các cháu chỉ là khán giả, xem Chú Cuội và Chị Hằng cùng Sư Tử biểu diễn...
Còn ngày Noel thì sao?
Ở ta ai mà chẳng háo hức với ngày Giáng sinh , không đi nhà thờ thì cũng đi Shopping vì dịp này các siêu thị, các nhãn hiệu thời trang đều giảm giá, đưa ra các mẫu mới...
Còn nữa, các ca sĩ nổi tiếng ở Mỹ một phần lớn xuất thân từ Ca Đoàn.
...
Cuộc nói chuyện bị gián đoạn vì Cu Tí mếu máo. Ba ơi con mất tiền rồi. Ban Tổ Chức thưởng cho con 150.000 Đồng. Lúc nhảy Gangnam Style con để xuống sân khấu, không biết ai lấy mất!!
"Tiền phải đi liền với ruột con ạ"
Mình tranh thủ cho con một bài học cơ bản!
...       
Halloween là sắp đến Giáng sinh, tức là sắp đến Tết.

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

THIÊN ĐƯỜNG MALDIVES

Sau 5 giờ bay và 4 giờ transit tại Kuala Lumpur chúng tôi có mặt tại nơi được gọi là thiên đường còn sót lại.

Cảnh đẹp mê ly và môi trường trong sạch.... Du khách cũng đẹp!!?

Trên cầu tàu


Chơi dù bay (parasailing)

Dinh tổng thống nhỏ xinh xinh.

Đường phố Male, thủ đô của đất nước với hơn 1.000 hòn đảo nhưng chỉ có 350.000 dân. Chưa bằng một quận ở những thành phố lớn của Việt nam. Nền kinh tế của quốc đảo này chỉ gồm có 02 ngành chính là đánh cá và du lịch.

Một cây xoài

Một cây đa trên đường phố.

Biển của ta có lẽ cũng chẳng thua kém họ bao nhiêu . Tôi đi lặn xem san hô thấy thậm chí san hô ở Nha Trang đẹp hơn. Tuy nhiên cái họ hơn là cách tổ chức và tinh thần phục vụ. Rất tận tình, vui vẻ và thân thiện. Họ luôn có những bữa tiệc, hoạt động để toàn bộ du khách trong resort chung vui như người trong một nhà. Trong ảnh là cô nhân viên người Nhật tiễn khách ra tận sân bay. (Có khoảng 150 nhân viên trong resort nhưng có tới 24 quốc tịch, chỉ có khoảng 2-3 người bản địa,)


Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

CON SẼ TRÃ THÙ CHO BỐ ( bạn của bố-gái thuỷ tinh;phần 2)



Chào lưu tiên sinh!
Định không bao giờ “hấp” nữa. định không bao giờ động vào “con chữ” nữa vì nó thật là nguy hiểm và chứa đầy bất an!nhưng nó giống như “tình già” vậy-“càng quên càng nhớ vô vàn chẳng yên...” có lẽ đến DỪ tuổi này rồi,chẳng làm được gì nữa,thấy người ta có tình yêu mới,có bạn gái mới...mà “ quân nhân kém miếng ắt bực mình” nên trai HẢI AN không chịu được mang chuyện xa xôi,dĩ vãng...lắp vào hiện tại.nào bạn KT có đôi mắt tròn tròn mình đã đôi lần được sở hữu,nào bạn TM có mái tóc ngăn ngắn mình kẹp tóc hộ đã bao lần,bạn KT xinh xinh nhí nhảnh đã ngồi sau xe mình ríu rít như chim,bạn... ôi nhiều quá!cảm giác con hổ về già lê bước gặm nhớ lại thời oanh liệt thích thật!!!
Chào lưu tiên sinh!
Con trai tôi đọc bạn trai của bố,ngưõng mộ lắm,nhưng cũng thắc mắc lắm?vậy bạn gái của bố thì sao?yên tâm,yên tâm lớn đi!bạn gái của bố huy hoàng chói lọi gấp ngàn lần bạn trai,con đã từng viết bảng,cảm giác của con khi viết quen cục phấn mà phải cầm phải cục vôi thì bạn trai và bạn gái của bố cũng tương tự như vậy!
bạn gái của bố,thiên thần phải ngả mũ,cây cỏ phải nghen tỵ...mà giờ đây bố vẫn rạo rực như ngày nào!nhớ những đêm trăng bố và bạn KT nắm tay nhau, đi hoài đi huỷ mà không tới được đích để rồi hạ quyết tâm đêm mai sẽ nói mà lại phải thôi,có những lúc đến vỡ cả đầu chỉ vì một câu hỏi tại sao?mà trọn gần thế kỷ mới có câu trả lời là có anh lái tàu đã nằm đè vào bố!
ôi nhớ!nhớ gốc bàng,nhớ hàng duối,nhớ bãi cỏ...bố và bạn TM...(không biết ngày ấy đè lên cỏ,cỏ có thù mình không nhỉ!) ôi nhiều,nhiều lắm...lúc đó chỉ uớc ao nho nhỏ mình đủ quyền lực để đổi tên lại cây cỏ là gốc  bẽ bàng,hàng thất vọng,bãi cỏ căm thù...vì ai,vì ai?  Vì có anh teacher đã mang... phấn đến  trước đặt gạch mất rồi!
con ơi!ngu dại cái thân bố,luôn luôn lắng nghe nhưng lâu lâu mới hiểu.mang mảnh chĩnh để chòi chuông khánh!bí mật nhớ!tuyệt đối bí mật mật nhớ!ngày ấy bố dám đem lòng... đem lòng yêu... đem lòng yêu cô giáo... đem lòng yêu cô giáo...cô giáo tên ...cô giáo tên T!trời ơi!bây giờ thi thoảng trông thấy cô...cô giáo...mà bố vẫn lạnh toát cả người,vẫn đau đáu một câu hỏi:tại sao cô không yêu em!tại sao?em hứa sẽ mang lại cho cô rất,rất nhiều đứa trẻ,em sẽ tạo điều kiện cho cô trở thành anh hùng,em sẽ mang lại cho cô rất,rất nhiều niềm lo lắng,em sẽ mang lại cho cô...
bố và bạn...  đã đi cả ngàn đêm...về ông quất cho một trận,vừa quất vừa quát:sáng bảnh mắt ra rồi mà chưa dậy !
con trai tôi bẽn lẽn nói:con...con sẽ trả thù cho bố! 

Trai Hải An