Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

FELISTA (FOREVER WITH YOU)


Bài hát hay và cảm động của Yanni. Xin tặng các Bà Mẹ nhân mùa Vu lan!



Lycrics:

inside a promise winter has fallen and summer has stolen my heart unclaimed i have flown by hours unnoticed frozen without your embrace i've been dancing with you longing this hour to send me into loving surrender the beauty i treasure all that i see is still only for you love me release me say that you'll keep me dancing forever with you open the window let in the starlight don't wait for tomorrow it's perfect tonight hold me here for just a while longer where no lonely heart ever breaks i've been dancing with you longing this hour to send me into loving surrender the beauty i treasure all that i see is still only for you love me release me say that you'll keep me dancing forever with you hold me heal me your eyes reveal me and i will not give that away i've been dancing with you needing this hour to send me into loving surrender the beauty i treasure all that i see i still only for you love me release me say that you'll keep me dancing forever with you and it's like a forgiving sky like every chance i find here where a promise starts here in your giving arms i pray that you'll keep my heart

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2015

Để biết là mình không biết...



Phan Đình Diệu


GS.TSKH.

Chưa bao giờ việc học được toàn xã hội chúng ta quan tâm như mấy năm vừa qua. Ta đã bàn nhiều về những điều mà xã hội phải lo cho người học, nhưng còn bản thân người học phải lo thế nào cho việc học của chính mình thì có lẽ còn ít được bàn tới. Trong một đời người thì việc học ở nhà trường có thầy có lớp nhiều lắm cũng khoảng mươi, mười lăm năm, còn ngoài ra để học suốt đời thì chủ yếu là tự học.
Học là để hiểu biết. Học có thầy có lớp thì sẽ thu được những hiểu biết mà người khác nghĩ là mình cần được biết. Tự học thì tức là tự mình đi tìm những gì mà mình thấy là cần biết. Cho nên, tự học đòi hỏi tính chủ động, tự mình phải biết là mình biết gì, chưa biết gì và muốn biết gì, rồi mới tìm học cái mà mình muốn biết đó.
Từ ngàn xưa, theo sách Luận ngữ, Khổng Tử đã dạy học trò: "Việc chi mình biết, nhận là biết; việc chi mình không biết, nhận là không biết; ấy là biết vậy".
Lời dạy này tôi được học từ thuở còn bé, nhưng càng lớn lên, càng được học nhiều, tôi càng cảm thấy thực hiện được lời dạy tưởng như đơn giản ấy mới khó lắm thay! Khi còn cắp sách đến trường thì chẳng phải băn khoăn, cái gì cũng coi là chưa biết, nghe thầy dạy mà biết; nhưng khi phải học mà không còn sự dạy bảo của thầy, một mình với sách vở, với tài liệu, thì trước cái mênh mông của tri thức, nhiều khi mình không biết nên bắt đầu từ đâu, nên xoay xở thế nào.
Thậm chí, ngay khi đã định hướng được chủ đề mà mình muốn học, nên đọc sách gì, học theo cách nào, không phải lúc nào cũng dễ xác định ngay được. Cũng vẫn là những câu hỏi tưởng như đơn giản: biết gì, không biết gì, muốn biết gì, mà tình huống mỗi lúc một khác, không ít khi dẫn mình lạc lối.
Tôi thường gặp tình huống: khi học một quyển sách, đọc từ đầu đến cuối tưởng rằng mình đã hiểu cả, nhưng rồi lần sau đọc lại mới phát hiện ra rằng mình đã hiểu sai cả, và điều đó không phải chỉ xảy ra một lần. Kinh nghiệm đó lặp đi lặp lại với sách này rồi sách khác dạy cho tôi một ý thức cảnh giác với những gì mà mình tưởng là đã hiểu. Cho nên, phân biệt cho được cái biết và cái chưa biết, cái hiểu và cái chưa hiểu quả thực không dễ.
Vậy, hiểu là thế nào nhỉ? Tôi nghĩ rằng hiểu phải là nắm bắt được cái cốt lõi bản chất của một tri thức, hay như người ta thường nói, cái hạt nhân "chân lý" chứa đựng trong tri thức, thậm chí cả vẻ đẹp của tri thức đó. Khi đọc một quyển sách, thoạt đầu ta tiếp xúc với câu chữ, với ngôn ngữ, rồi với các lập luận từ câu này sang câu khác. Ta nghĩ rằng ta đã hiểu là vì các câu chữ rõ ràng, lập luận hợp logic... Nhưng lần sau ta nhận ra ta đã hiểu sai, là vì bản chất của tri thức thường nằm đằng sau, ẩn bên trong cái vỏ hình thức của những ngôn ngữ và lập luận đó. Còn vẻ đẹp của tri thức thì họa hoằn lắm ta mới phát hiện được qua hình bóng của những ánh chớp tư tưởng đã từng xuất hiện ở những giây phút thần kỳ nào đó của sự sáng tạo, mà chỉ những cảm thụ đặc biệt nào đó mới phát hiện ra được.
Cho nên, đọc sách mà muốn hiểu được sâu sắc một tri thức thì thường phải tìm lại được quá trình sáng tạo nên tri thức đó, mà ta nhớ rằng cách trình bày một tài liệu (khoa học) thường đòi hỏi tuân theo một logic diễn dịch (hình thức), gần như theo con đường ngược lại với logic của quá trình sáng tạo!
Trên đây là nói về sự hiểu và không hiểu một tri thức mà đối với nó có một cách hiểu đúng duy nhất. Nhưng ngày nay, nhận thức của con người càng ngày càng động chạm đến những vấn đề phức tạp, khó có một tri thức nào về những vấn đề như vậy có thể được xem là duy nhất đúng, thì cái hiểu và không hiểu lại càng khó phân biệt hơn nhiều.
Khoa học, trước yêu cầu nhận thức cái phong phú, đa dạng và phức tạp đó của thiên nhiên và cuộc sống, cũng không còn tự đặt cho mình mục tiêu phát hiện các "chân lý" phổ biến nữa, mà trở thành "khiêm tốn" hơn, khoa học xem mục đích của mình là tìm kiếm các cách "giải quyết vấn đề", các câu trả lời cho những vấn đề mà con người gặp phải trong cuộc sống của mình. Cuộc sống luôn luôn đặt ra các câu hỏi về thiên nhiên, về vũ trụ, về thế giới, về sự sống, về kinh tế, về xã hội, về văn hóa, v.v..., con người tùy trình độ của từng thời đại mà có những câu trả lời khác nhau, có thể không tuyệt đối đúng nhưng phù hợp với nhận thức của thời đại và giúp con người có những cách hành xử thích hợp với thời đại mình.
Theo nhà khoa học nổi tiếng Louis Pasteur, khoa học cứ bằng cách tìm kiếm câu trả lời cho hàng loạt những câu hỏi kế tiếp như vậy mà đạt dần đến những vấn đề cốt tủy của tự nhiên. Từ những quan niệm thô sơ thời Aristote, Democrite đến cơ học Newton, rồi từ Newton đến thuyết tương đối Einstein và vật lý lượng tử của thời đại chúng ta, những câu hỏi về vũ trụ và vật chất cứ liên tiếp có được những câu trả lời khác nhau, cái "đúng" của từng thời dẫu không là đúng thật vẫn giúp con người thúc đẩy cuộc sống tiến lên.
Cũng như vậy, vấn đề "công bằng" xã hội đã được đặt ra từ thời cổ Hy Lạp, rồi đến thời cách mạng dân chủ tư sản, qua thời cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu thế kỷ 20, và đến nay nó vẫn là một vấn đề cơ bản được tranh luận cho một mô hình xã hội ở thế kỷ 21, có thể có một định nghĩa "đúng" cho khái niệm đó hay không vẫn còn là một câu hỏi. Toán học, một ngành khoa học thuần lý, có tự chứng minh được một định lý khá thú vị (định lý Tarski): "Khái niệm "đúng" toán học là không thể định nghĩa được trong toán học".
Như vậy, trong môi trường mà cái đúng và không đúng của tri thức không được phân biệt rạch ròi, thì vấn đề hiểu, không hiểu cũng cần được đặt ra một cách uyển chuyển hơn. Thường gặp nhất là về cùng một vấn đề có thể có nhiều lý thuyết khác nhau, nhiều cách giải đáp khác nhau, mình chỉ biết một cách rồi xem cách đó là duy nhất đúng, thì đó là biết mà là không biết, hay nói đúng hơn, là không biết là mình không biết.
Trong những trường hợp như vậy, để khắc phục cái "không biết" là mình không biết thì cách tốt nhất là mở rộng các cuộc thảo luận và tranh luận, để nhiều cái biết khác nhau được phát biểu, đua tranh với nhau, rồi qua chọn lựa mà tìm cho mình cái biết thích hợp nhất (chứ chưa hẳn đúng nhất), và tạm bằng lòng với cái biết tương đối đó. Cho nên, để biết là mình không biết trong môi trường mới, phức tạp hiện nay, thì điều cần thiết là biết lắng nghe, chấp nhận việc tranh luận giữa nhiều cách hiểu khác nhau về cùng một vấn đề.
Biết mình không biết là khởi đầu của việc học và tự học, nó cũng là khởi đầu của mọi sáng tạo, đặc biệt là sáng tạo khoa học. Cho đến nay, khoa học đã đạt được rất nhiều thành tựu rực rỡ. Nhưng, những câu hỏi chưa có trả lời đặt ra cho thế kỷ mới cũng càng ngày càng nhiều. Hy vọng rằng với tinh thần "biết là còn nhiều điều mình chưa biết" sẽ giúp cho chúng ta thêm năng lực sáng tạo để tìm được câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi đó.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT

Minh Đức Triều Tâm Ảnh



Thư viện Hoa Sen

Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.
Với cái nhìn “chủ quan” của một tu sĩ Theravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rõ như thực:
1- Tôn giáo: Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo, vì đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác.
2- Tín ngưỡng: Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.
3- Triết học: Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết”chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”,“phán” rồi“đoán” như của Tây phương.
4- Triết luận: Đạo Phật có tuệ giác để thấy rõ Cái Thực chứ không sử dụng lý trí phân tích, lý luận. Còn triết, còn luận là vì chưa thấy rõ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà còn “luận”(thiền luận) là đã đánh mất thiền rồi.
5- Từ thiện xã hội: Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xã hội nhưng không coi từ thiện xã hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tròn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật còn có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xã hội thì ai cũng làm được, thậm chí người ta còn làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. Còn giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, môt chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. Còn nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ thì mọi hình thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!
6- Cực lạc, cực hạnh phúc: Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền não của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.
7- 8 vạn 4 ngàn pháp môn: Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng chất, còn có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? Còn nữa, xin lưu ý, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ thời. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền não, 84 ngàn cách tu...
8- Xin xăm, bói quẻ, cầu sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu: Những hình thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāli có đoạn: “Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...”
Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ý trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).
9- Định mệnh: Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt thì gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.
10- Siêu độ, siêu thoát: Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngã để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Theravāda còn duy trì. Có thể có hai trường hợp:
- Nếu vừa chết lâm sàng thì thần thức người chết vẫn còn. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mõ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho mình.
- Nếu thần thức đã lìa khỏi thân rồi – thì họ đã tái sanh vào cõi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy thì gia đình làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đã mất.
Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ý nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ý nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự mình thắp đuốc mà đi, tự mình là hòn đảo của chính mình”.
Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá vãng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.
11- Huyền bí, bí mật: Giáo pháp của đức Phật không có cái gì được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!
12- Tâm linh: Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những hình thức mê tín, dị đoan, sa đoạ văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề tìm ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!
13- Niết-bàn: Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cõi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào tìm kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đã nói rõ: “Phật pháp tại thế gian. Bất lý thế gian giác. Ly thế mịch bồ-đề. Cáp như tầm thố giác”. Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền não mới giác ngộ bài học được.
14- Bỏ khổ, tìm lạc: Tu Phật không phải là bỏ khổ, tìm lạc. Xin lưu ý cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền não!
15- Tu để được cái gì! Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái gì đó. Xin thưa, được cái gì là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngã sở đắc. Đạo Phật là vô ngã. Hãy xin đọc lại Bát-nhã tâm kinh.
16- Tu là sửa: Nếu tu là sửa thì mình đã từ “cái ta này” biến thành“cái ta khác”. Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng trệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên.
17- Vía: Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu thì nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh - phần tâm, sắc - phần thân – luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách lìa danh ra khỏi sắc, như Cõi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cõi trời Vô tưởng hữu tình này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên. Còn các Cõi trời Vô sắc thì sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên. Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là “đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta còn hô “Thần nhập tượng” nữa chứ!
18- Bồ-tát: Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”.Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.
19- Phật: Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là người Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đã mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là bậc Giác ngộ. Vậy, có người Giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, được gọi là Thanh Văn Giác. Có người Giác ngộ do tự mình tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị Giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác.
Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.
20- Thể nhập: Tu là không thể nhập vào cái gì cả. Thể nhập là bỏ cái ngã này để nhập vào cái ngã khác. Cãi ngã khác ấy có thể là dòng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; khi nói, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; khi ăn, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – thì đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”,ngay giây khắc ấy, mọi tham sân, phiền não không có chỗ để phan duyên, sanh khởi.
Ngoạ Tùng Am, Sơ Xuân 2015

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

LỜI CẢM TẠ CỦA GIA ĐÌNH DƯƠNG


Các bạn thân mến!
Bố vợ tôilà ông:NGUYỄN NGỌC HIỆU sau một thời gian lâm bệnh nặng đã không qua khỏi và đã mất tại nhà.
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, thân bằng cố hữu gần xa và đặc biệt tập thể lớp 12A1 đã đến chia buồn cùng gia đình!
Trong lúc tang gia bối rối có gì sơ sót rất mong được lượng thứ!
Thay mặt gia đình: Lê Khắc Dương